Về hợp tác 3 nhà trong tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Nguyễn Mạnh Hùng

Cách tiếp cận truyền thống về NCPT là đi từ khoa học tới công nghệ, từ công nghệ tới sản phẩm, từ sản phẩm tới thị trường. Đi từ khoa học đến công nghệ, sản phẩm rồi thị trường là một hành trình dài, nhiều rủi ro, và chỉ một phần nhỏ kết quả nghiên cứu trở thành sản phẩm thương mại. Đây là cách đi từ trên trời xuống đất. Cách này phù hợp với nghiên cứu cơ bản.
Cách tiếp cận mới là bắt đầu từ bài toán thực tiễn và nhu cầu thị trường. Từ nhu cầu tới bài toán, từ bài toán tới yêu cầu về sản phẩm, từ sản phẩm tới công nghệ cần có, và từ công nghệ tới khoa học cần nghiên cứu. Điểm mới cốt lõi là đưa người sử dụng vào đầu quá trình nghiên cứu, gắn nghiên cứu với điều kiện ứng dụng và mua hàng. Đây là cách tiếp cận từ dưới đất lên trời. Cách này đặc biệt hiệu quả với nghiên cứu ứng dụng.
Nhà nước là hộ tiêu dùng lớn nhất của nền kinh tế. Mỗi năm Nhà nước chi tiêu khoảng 2 triệu tỷ đồng, tương đương 80 tỷ $. Nếu Nhà nước hướng chi tiêu trong mọi lĩnh vực của mình vào các sản phẩm/dịch vụ có hàm lượng đổi mới công nghệ, thì đây sẽ là lực đẩy mạnh nhất cho ứng dụng KHCN và ĐMST.
Chuyển đổi quan trọng nhất của Nhà nước để thúc đẩy ứng dụng KHCN và ĐMST là bổ sung vai trò người mua, người dùng đầu tiên vào vai trò người tài trợ nghiên cứu. Trước đây, Nhà nước chủ yếu nói: "Tôi cấp tiền để anh nghiên cứu cái này". Bây giờ, với cách tiếp cận đặt hàng, Nhà nước nói: "Tôi cần giải quyết vấn đề này, bài toán này, sản phẩm phải đạt các yêu cầu này thì tôi sẽ mua với giá này và số lượng này". Nhà nước dùng sức mua của mình để biến nhu cầu công thành thị trường cho KHCN và ĐMST.
Nhưng cái khó là Nhà nước chưa quen làm việc này. Do vậy, phải xây dựng một đầu mối chuyên nghiệp đặt hàng công nghệ. Trung tâm ĐMST cấp tỉnh chính là đầu mối này. Nguyên tắc chung là, ai có bài toán, người đó đặt hàng và chịu trách nhiệm sử dụng, thiếu năng lực đặt hàng thì thuê chuyên gia cùng làm để hình thành năng lực.
Đặt hàng sản phẩm công nghệ là một mũi tên trúng 2 đích, Nhà nước giải quyết được bài toán của mình một cách hiệu quả, nhất là thay đổi cách vận hành của bộ máy Nhà nước dựa trên công nghệ mới, còn doanh nghiệp có thị trường để phát triển, cả về công nghệ và quy mô. Nếu Nhà nước chỉ dành vài phần trăm chi tiêu cho các sản phẩm công nghệ Việt Nam thì các doanh nghiệp đã có thị trường công nghệ hàng trăm ngàn tỷ đồng. Doanh nghiệp công nghệ thì cái cần đầu tiên là thị trường.
Nhà nước còn một công cụ nữa để thúc đẩy KHCN và ĐMST. Đó là voucher. Voucher là công cụ để Nhà nước kích thích nhu cầu ứng dụng KHCN và ĐMST của doanh nghiệp, hỗ trợ họ trở thành người mua công nghệ. Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, doanh nghiệp lựa chọn sản phẩm/dịch vụ công nghệ phù hợp với mình và cùng chi trả. Nhu cầu xuất phát từ doanh nghiệp nên Nhà nước sẽ giảm được gánh nặng phải tự xác định từng bài toán và giải pháp. Đây cũng là một mũi tên trúng 2 đích, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thì đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp công nghệ thì có thị trường.
Nếu Nhà nước dành 5% ngân sách KHCN và ĐMST cho voucher công nghệ, tương đương khoảng 2,500 tỷ đồng, và sử dụng mô hình nhà nước bỏ ra 1 đồng thì doanh nghiệp bỏ thêm 2 đồng hoặc 3 đồng, thì chúng ta cũng sẽ có một thị trường công nghệ hàng chục ngàn tỷ đồng.
Một thay đổi quan trọng nữa là mở rộng đích đến của hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, từ thành công kỹ thuật đến ứng dụng và thị trường: từ sản phẩm mẫu đến sản xuất loạt 0 và những đơn hàng đầu tiên. Sản phẩm mẫu chứng minh công nghệ có thể hoạt động, loạt 0 kiểm chứng khả năng sản xuất ổn định, chất lượng và giá thành, bán được hàng chứng minh sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tế. Nếu hỗ trợ dừng ở sản phẩm mẫu, kết quả nghiên cứu có thể vẫn còn cách xa ứng dụng. Vì vậy, cần phải thiết kế hỗ trợ nghiên cứu xuyên suốt quá trình để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường, bao gồm hoàn thiện sản phẩm, sản xuất thử, thử nghiệm tại khách hàng, kiểm định, chứng nhận và tiếp cận khách hàng đầu tiên.
Những ý trên nhấn mạnh cách hỗ trợ đầu ra thay vì hỗ trợ đầu vào. Nghiên cứu cơ bản thì hỗ trợ đầu vào, nghiên cứu ứng dụng thì nên hỗ trợ đầu ra. Nhà nước hỗ trợ đầu ra cho doanh nghiệp cũng là cách gián tiếp hỗ trợ viện trường, vì doanh nghiệp khi phát triển sản phẩm sẽ đặt hàng phần khoa học-công nghệ cho viện trường.
Chúng ta nói đến mối quan hệ 3 nhà: Nhà nước, doanh nghiệp và viện trường. Nhưng còn một mối quan hệ rất quan trọng, thậm chí có tính đột phá và cần đặt ở trung tâm, đó là mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp làm công nghệ và doanh nghiệp sử dụng công nghệ.
Doanh nghiệp sử dụng công nghệ có bài toán thật, môi trường thử nghiệm và khả năng trả tiền. Doanh nghiệp công nghệ có năng lực tìm lời giải, phát triển sản phẩm. Hai bên kết hợp thì nhu cầu chuyển thành đơn hàng, công nghệ chuyển thành năng suất và doanh thu. Đột phá là chuyển từ mua sản phẩm có sẵn sang cùng đặt bài toán, cùng phát triển và cam kết mua khi đạt kết quả.
Nếu doanh nghiệp công nghệ đã có sản phẩm thì cũng nên thay đổi cách bán hàng, thay vì bán sản phẩm thì bán kết quả. Thí dụ, không bán AI mà bán kết quả của sản phẩm AI là giảm 20% chi phí nhân công.
Doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cần phát triển một số nền tảng số và sản phẩm công nghệ phổ thông dùng chung cho số đông hoặc cho từng ngành, dễ sử dụng, chi phí thấp, để doanh nghiệp và người dân có thể ứng dụng ngay. Đây là một cách rất hiệu quả để đẩy nhanh, phổ cập việc ứng dụng KHCN và ĐMST.
Với viện/trường, đột phá là đưa doanh nghiệp vào ngay từ đầu quá trình nghiên cứu. Doanh nghiệp đặt bài toán, cùng đầu tư cho nghiên cứu và cam kết đưa công nghệ vào sản phẩm khi nghiên cứu thành công. Viện/trường tập trung giải quyết phần khoa học-công nghệ, doanh nghiệp chịu trách nhiệm làm sản phẩm và phát triển thị trường. Nhà nước ưu tiên hỗ trợ những hợp tác như vậy. Khi có doanh nghiệp đồng hành từ đầu, kết quả nghiên cứu sẽ có một con đường để đi vào cuộc sống, viện/trường sẽ có thêm nguồn lực từ chính giá trị mình tạo ra.
Muốn thúc đẩy ứng dụng KHCN và ĐMST, nhất là trong thời đại AI, chính sách phải chuyển trọng tâm sang hỗ trợ đầu ra: tạo thị trường, đặt hàng và chia sẻ rủi ro với người sử dụng công nghệ đầu tiên. Một đơn hàng có thể kéo theo cả quá trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và hoàn thiện sản phẩm.
Khi Nhà nước giúp mở đường cho đầu ra, doanh nghiệp sẽ có động lực đầu tư cho đầu vào, khi doanh nghiệp công nghệ bán kết quả thay vì bán sản phẩm thì doanh nghiệp ứng dụng sẽ hăng hái ứng dụng công nghệ.


