Bỏ qua đến nội dung chính

Phát biểu Hội thảo 60 năm Học viện Kỹ thuật Quân sự

Nguyễn Mạnh Hùng

Nguyễn Mạnh Hùng

Phát biểu Hội thảo 60 năm Học viện Kỹ thuật Quân sự

TỪ LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ ĐẾN TẠO RA CÔNG NGHỆ MỚI

Con đường trở thành đại học nghiên cứu của Học viện Kỹ thuật Quân sự

Hôm nay, trở lại Học viện nhân dịp 60 năm thành lập, với tôi có ý nghĩa rất đặc biệt, vừa là người từng công tác trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, vừa là một học viên cũ, xin được phép chia sẻ một vài suy nghĩ cá nhân về tương lai Học viện.

Sáu mươi năm là lúc tự hào nhìn lại, nhưng cũng là lúc đặt câu hỏi: Nếu 60 năm qua Học viện được biết đến bởi đã đào tạo ra những ai, thì 60 năm tới Học viện còn phải được biết đến nhiều hơn bởi đã tạo ra những gì?

Sứ mệnh mới phải cao hơn: Không chỉ làm chủ công nghệ, mà phải tạo ra công nghệ mới; không chỉ truyền bá tri thức, mà phải tạo ra tri thức mới; không chỉ đào tạo người giải bài toán, mà phải đào tạo người đặt ra bài toán.

Đó là bước chuyển từ một đại học mạnh về đào tạo thành một đại học nghiên cứu thực sự. Học viện có thể đặt mục tiêu trong 10 năm tới trở thành một trong 5 đại học nghiên cứu hàng đầu Việt Nam, trong một số lĩnh vực công nghệ quốc phòng chiến lược thì đứng đầu quốc gia, có vị trí trong khu vực và thế giới.

Từ làm chủ công nghệ đến làm chủ bài toán

Người làm chủ công nghệ biết cách làm. Người làm chủ bài toán biết cái gì đáng làm.

Công nghệ thay đổi nhanh, nhưng người hiểu sâu bài toán sẽ biết hôm nay cần dùng công nghệ nào, ngày mai cần tạo ra công nghệ gì. Ở mức độ cao hơn, làm chủ bài toán còn quan trọng hơn làm chủ một công nghệ cụ thể.

Đây chính là lợi thế của Học viện. Ở trong Quân đội, nên Học viện gần với thực tiễn quốc phòng, gần với những bài toán lớn và khó của Quân đội.

Nghiên cứu của Học viện phải đi cả hai chiều. Một chiều đi từ trên trời xuống đất: từ nghiên cứu khoa học tới công nghệ, từ công nghệ tới sản phẩm ứng dụng. Một chiều đi từ dưới đất lên trời: từ vấn đề thực tế xác định ra bài toán, từ bài toán đặt ra câu hỏi khoa học, rồi xác định công nghệ cần nghiên cứu.

Từ đề tài sang bài toán lớn, từ chia đều sang tập trung tạo đỉnh cao

Một đại học nghiên cứu không mạnh vì có nhiều đề tài, mà mạnh vì có những bài toán lớn được theo đuổi lâu dài.

Học viện không thể nghiên cứu mọi thứ. Hãy chọn 5–7 hướng khoa học và công nghệ có khả năng đứng đầu Việt Nam, một số hướng đạt trình độ quốc tế; mỗi hướng có những bài toán lớn cần theo đuổi dài hơi 5 đến 10 năm.

Đề tài tạo ra kết quả. Bài toán lớn tạo ra năng lực.

Xung quanh bài toán lớn phải hình thành các phòng thí nghiệm mạnh: một nhà khoa học dẫn dắt, một bài toán lớn, một nhóm người giỏi và một nguồn lực dài hạn. Tìm người trước, chọn bài toán trước rồi mới đầu tư thiết bị cho phòng thí nghiệm.

Từ nghiên cứu trong Học viện sang hệ sinh thái nghiên cứu mở

Đại học nghiên cứu không thể phát triển trong một hệ thống khép kín. Doanh nghiệp làm sản phẩm, khi gặp bài toán khoa học và công nghệ khó, doanh nghiệp sẽ tìm đến đặt hàng Học viện. Đó là sự phân vai và liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp.

Đặc điểm lưỡng dụng của nhiều công nghệ mới cũng mở ra không gian phát triển rộng. Quân sự tạo ra bài toán khó. Dân sự tạo ra thị trường lớn. Bài toán khó đẩy công nghệ lên cao; thị trường lớn giúp công nghệ giảm giá thành và tiến hóa nhanh, quay lại phục vụ quốc phòng. Học viện có thể phát huy lợi thế khi đứng ở giao điểm của hai dòng chảy này.

Hệ sinh thái nghiên cứu phải mở ra trong nước và toàn cầu. Không đại học nào sở hữu tất cả người giỏi. Phải chuyển từ “nguồn lực tôi có” sang “nguồn lực tôi huy động được”. Nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước có thể cùng nghiên cứu, cùng hướng dẫn nghiên cứu sinh, tham gia phòng lab và phát triển công nghệ.

Biến 60 năm tích lũy thành nguồn lực phát triển mới

Một tài sản đặc biệt của Học viện là các thế hệ cựu học viên đã trưởng thành. Họ không chỉ là lịch sử, mà họ phải trở thành một phần đóng góp tạo ra tương lai của Học viện.

Cựu học viên có thể trở lại giảng dạy, tư vấn, đặt bài toán, kết nối doanh nghiệp và quốc tế, tài trợ học bổng, quỹ, phòng nghiên cứu.

Người tài trợ một phòng lab hoặc một trung tâm nghiên cứu nên được vinh danh bằng việc đặt tên cho công trình đó. Qua đó hình thành truyền thống: được Học viện đào tạo để trưởng thành, rồi quay trở lại làm cho Học viện mạnh hơn.

Đại học nghiên cứu không thể chỉ chi tiền cho nghiên cứu. Nghiên cứu phải tạo ra nguồn lực để tiếp tục nghiên cứu. Có thể đặt mục tiêu trong 10 năm tới, nguồn thu từ R&D, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa đạt một tỷ lệ đáng kể trong tổng chi phí hoạt động của Học viện. Đây là thước đo giá trị của tri thức mà Học viện đã tạo ra.

Đồng thời phải có cơ chế spin-off. Một số công nghệ mới cần một doanh nghiệp mới để lớn lên. Đại học nghiên cứu vì thế tạo ra ba loại sản phẩm quan trọng: Con người, Tri thức công nghệ và Doanh nghiệp công nghệ mới.

AI là cơ hội để Học viện đi vào những vùng công nghệ mới

Người đi sau không nên cố chạy nhanh hơn trên con đường người đi trước đã đi rất xa. Người đi sau phải tìm con đường mới mà tất cả còn đang ở gần vạch xuất phát.

AI không nên chỉ là một ngành hay một trung tâm. AI phải trở thành năng lực nền của Học viện, kết hợp với UAV, robot, radar, viễn thông, an ninh mạng và các hệ thống kỹ thuật khác. Hãy đặt những bài toán mà thế giới cũng đang mới bắt đầu giải. Đó là nơi Học viện có cơ hội tạo ra năng lực riêng của Việt Nam.

Từ nghiên cứu để có kết quả sang nghiên cứu để tạo ra thay đổi

Nghiên cứu phải quay trở lại làm thay đổi đào tạo. Học viên giỏi phải được vào phòng lab sớm, tham gia bài toán thật và giải những câu hỏi chưa có đáp án. Phải chuyển từ học rồi mới nghiên cứu sang học bằng nghiên cứu.

Cách đo lường, đánh giá nghiên cứu cũng phải thay đổi. Vẫn cần bài báo, đề tài, bằng sáng chế, nhưng đó chủ yếu là Output. Một đại học nghiên cứu mạnh cần được đánh giá sâu hơn bằng kết quả (outcome) và tác động (impact), đó là: số bài toán lớn được giải quyết; số công nghệ lõi được làm chủ; số công nghệ đi vào sản phẩm; số sản phẩm của doanh nghiệp có chứa công nghệ của Học viện; số phòng thí nghiệm đạt trình độ quốc tế; số hợp đồng nghiên cứu do doanh nghiệp đặt hàng; số doanh nghiệp spin-off được hình thành; nguồn lực quốc tế được huy động; và tỷ trọng nguồn lực được tạo ra từ hoạt động nghiên cứu.

Và có một đánh giá cao hơn mọi chỉ số, đó là: Có những bài toán khoa học và công nghệ quan trọng nào của Quân đội và đất nước mà khi cần giải quyết, người ta nghĩ ngay đến Học viện Kỹ thuật Quân sự?

Nếu ngày càng có nhiều bài toán khó có câu trả lời là Học viện, thì Học viện đã thực sự trở thành một đại học nghiên cứu mạnh.

Kính thưa các đồng chí!

Những chia sẻ của tôi có thể gọn lại là: Chọn ít hướng nhưng chọn đúng; Tập trung nguồn lực để tạo đỉnh cao; Trao quyền cho người thực sự giỏi; Mở Học viện ra với doanh nghiệp và thế giới; Kết nối quân sự với dân sự, khoa học với sản phẩm, nghiên cứu với đào tạo; Và đo bằng những năng lực, kết quả thực sự được tạo ra cho Quân đội và đất nước.

Đại học nghiên cứu không được tạo ra bằng việc đổi tên hay một quyết định hành chính. Đại học nghiên cứu hình thành khi nghiên cứu trở thành phương thức tồn tại và phát triển của nhà trường.

Với tư cách một học viên cũ, tôi mong rằng Học viện không chỉ là nơi đào tạo nhiều kỹ sư giỏi, mà còn là nơi những bài toán khó của đất nước được giải quyết, nơi những công nghệ mới của Việt Nam được sinh ra và những con người có khả năng tạo ra công nghệ tương lai được trưởng thành.

Từ làm chủ kỹ thuật đến làm chủ công nghệ.
Từ làm chủ công nghệ đến làm chủ bài toán.
Từ làm chủ bài toán đến tạo ra tri thức và công nghệ mới.

Đó có thể là con đường từ quá khứ tới tương lai của Học viện Kỹ thuật Quân sự.